Thị trường điều hòa không khí và đánh giá năng lượng của điều hòa gia dụng

Ngày đăng: 2016-11-21
Thị trường điều hòa không khí Việt Nam.

Thị trường điều hòa không khí Việt Nam và phương pháp đánh giá hiệu quả năng lượng của điều hòa gia dụng. 

1. Đặt vấn đề:

Hiện nay vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng đồng thời với việc giảm thiểu phát thải công nghiệp vào môi trường, ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu. Nó đặt ra một trong những thách thức lớn để đảm bảo sự phát triển bền vững của nước ta trong thế kỷ 21. Do đó song song với việc phát triển các nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo rất cần thiết phải có các giải pháp tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả. Trong khi đó theo các nghiên cứu gần đây tiêu thụ năng lượng trong khu vực nhà dân và các tòa nhà thương mại chiếm tới 23-24 % tổng điện năng tiêu thụ. Mặt khác trong các tòa nhà cao tầng hiện đại và các hộ nhà dân, tiêu thụ năng lượng cho điều hòa không khí (ĐHKK) trong các tháng mùa hè chiếm 30%¸60% toàn bộ tiêu thụ điện năng[]. Hơn nữa với mức độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay kết hợp với sự nóng lên của khí hậu, nhu cầu sử dụng điều hòa trong khu vực các hộ dân cư ngày càng gia tăng, dẫn tới sự gia tăng đáng kể tiêu thụ điện năng tại khu vực này. Tuy nhiên cho tới nay chưa có các nghiên cứu đánh giá về hiện trạng và tiềm năng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính CO2 trong khu vực này vì tính đa dạng của cấu trúc các hộ gia đình cũng như về chủng loại máy điều hòa và thói quen sử dụng của các hộ. Để giải quyết vấn đề trên trước hết cần phải có đánh giá về thị trường máy điều hòa gia dụng (cục bộ) và phương pháp, thiết bị đánh giá mức độ tiêu thụ năng lượng các loại điều hòa dân dụng công suất nhỏ. Đây chính là nội dung của báo cáo này.

2. Đánh giá về thị trường máy điều hòa gia dụng của Việt Nam

Cho đến nay ở Việt Nam chưa có một cơ quan, tổ chức thường xuyên nghiên cứu đánh giá toàn diện về thị trường máy điều hòa, mới chỉ có kết quả nghiên cứu của một vài dự án như của Bộ Công thương 2008, các nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội 2010. Thường xuyên đánh giá về thị trường máy điều hòa của Việt Nam chủ yếu là một số công ty của nước ngoài mà điển hình là BSRIA Co Ltd. Tuy nhiên tất cả các số liệu trên chỉ mang tính định hướng vì chưa phản ánh được hết các yếu tố của thị trường điều hòa của Việt Nam với lý do đa phần các nhà sản xuất, lắp ráp nội địa và các công ty thương mại trong nước thường không muốn cung cấp con số thực về số lượng sản phẩm và doanh số, ngoài ra còn phải kể đến một số lượng không nhỏ các điều hòa dân dụng được nhập lậu qua biên giới. Tuy vậy các nghiên cứu độc lập của các đơn vị tiến hành trong các thời gian khác nhau cũng đã cho thấy tiềm năng và tốc độ phát triển rất nhanh của thị trường máy điều hòa nói chung và thị trường máy điều hòa gia dụng Việt Nam nói riêng. Bảng 1 cho thấy mức độ tăng trưởng hàng năm và thị phần máy điều hòa dân dụng là rất lớn khoảng 20¸30% /năm trong giai đoạn 2010-2012. Các số liệu đánh giá của BSRIA Co Ltd. Năm 2009 cho kết quả đánh giá mức tăng trưởng thị trường tương đối thấp là do các đánh giá được thực hiện trong năm 2008 khi khủng hoảng tài chính thế giới đang ở đỉnh điểm. Trên thực tế đối

với thị trường ĐHKK Việt Nam sự phục hồi mạnh mẽ xảy ra ngay từ năm 2009 và tới năm nay 2010 có một sự bùng nổ nhất định về thị trường máy ĐHKK. Các nghiên cứu thị trường gần đây cho thấy một số nhà cung cấp hàng đầu của thị trường máy ĐHKK của Việt Nam có mức độ tăng trưởng doanh số bán hàng rất ngoạn mục từ 30¸60%.

Đối với thị trường ĐHKK của Việt Nam thị phần của các máy điều hòa gia dụng chiếm phần lớn từ 75¸85% tùy theo các cách đánh giá khác nhau với doanh thu 250¸350 triệu USD. Trong đó loại điều hòa bán chạy nhất là điều hòa hai cục có công suất 9000¸ 18000 BTUh, doanh số loại điều hòa này chiếm xấp xỉ 35¸ 40% tổng lượng ĐHKK được bán trên thị trường. Với điều kiện thời tiết nhiệt đới gió mùa của nước ta phần lớn điều hòa gia dụng là điều hòa một chiều lạnh, chỉ có một số hộ gia đình và khách sạn, văn phòng ở Miền Bắc sử dụng điều hòa gia dụng hai chiều. Doanh số bán điều hòa hai chiều chỉ chiếm khoảng 10% so với tổng doanh số bán điều hòa gia dụng[]. Các loại điều hòa gia dụng sử dụng công nghệ biến tần tiết kiệm điện hiện chưa được sử dụng rộng rãi. Các nhà cung cấp điều hòa gia dụng chính trên thị trường.

Như vậy có thể thấy :

– Thị trường điều hòa gia dụng chiếm phần lớn thị trường ĐHKK, với tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao hơn 20%;

– Doanh số điều hòa gia dụng khoảng 4-6 trăm nghìn chiếc cho toàn thị trường ;

– Trên thị trường điều hòa gia dụng hiện nay có rất nhiều các dạng điều hòa với các đặc tính tiêu thụ năng lượng khác nhau;

– Lĩnh vực điều hòa không khí gia dụng rất có tiềm năng thực hiện các giải pháp sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính CO2.

Vì vậy rất quan trọng phải nghiên cứu đánh giá các đặc tính năng lượng của các loại điều hòa này. Trên cơ sở đó có thể có những giải pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho lĩnh vực này.

3. Phương pháp đánh giá tiêu thụ năng lượng của điều hòa gia dụng

Hiện nay, để đánh giá hiệu quả năng lượng của điều hòa gia dụng, phương pháp truyền thống, cho kết quả chính xác là sử dụng hệ thống phòng kiểm chuẩn. Bản chất của phương pháp này là xây dựng hai buồng có khả năng điều khiển đồng thời nhiệt độ-t,oC và độ ẩm tương đối j, % (controlled climat chamber-testing room). Hai buồng này được cách nhiệt, cách ẩm với môi trường bên ngoài bằng các tấm panel bảo ôn, cách ẩm. Sau đó điều hòa gia dụng cần thử nghiệm được đưa vào các buồng này. Buồng thứ nhất giàn lạnh được đặt vào, trong buồng này tải nhiệt hiện và nhiệt ẩn được tạo ra bởi các thiết bị tạo tải giả, thanh đốt hoặc bơm nhiệt, thiết bị tạo ẩm. Buồng còn lại đặt dàn nóng, nhiệt độ và độ ẩm của buồng này cũng được điều khiển và duy trì bởi hệ thống điều hòa, thanh đốt bổ xung và thiết bị tạo ẩm. Chế độ nhiệt độ, độ ẩm dùng để kiểm định điều hòa gia dụng theo ISO 5151:2010.

 

Với điều kiện khí hậu của nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao quanh năm, điều kiện thử nghiệm thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm theo ISO 5151:2010 là điều kiện T1.

Máy điều hòa gia dụng khi đưa vào buồng thử nghiệm có các điều kiện khí hậu của phần dàn lạnh và dàn nóng được duy trì theo các thông số trình bày trên bảng 3 sẽ được cài đặt cho chạy ở chế độ toàn tải. Trên cơ sở các đầu đo, thiết bị chuyển đổi, lưu giữ số liệu và phần mềm tính toán phân tích chuyên dụng có thể xác định được các thông số chính sau: